03:34 EST Thứ bảy, 18/11/2017
Trường THPT LÊ THÀNH PHƯƠNG, An Mỹ, Tuy An, Phú Yên - Thi đua dạy tốt, học tốt.

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 61


Hôm nayHôm nay : 421

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 13527

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1475283

Menu tin tức

Lời hay ý đẹp

Thời gian là bờ bến của trí tuệ: mọi sự đều đi ngang qua thời gian còn chúng ta lại tưởng thời gian lướt qua.A. De Rivarol

Liên kết websites

HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ PHÚ YÊN
TRƯỜNG HỌC KẾT NỐI
Bộ GD
violet
UBND
Báo Py
vnexpress
tuanVN
24h
Facebook

Trang nhất » Tin Tức » Tài nguyên giáo dục

Để thi tốt môn Địa lí

Thứ hai - 01/04/2013 05:54
Để thi tốt môn Địa lí

Để thi tốt môn Địa lí

Địa lý là môn học xã hội với rất nhiều điều lí thú và bổ ích, tuy nhiên nhiều học sinh chưa mặn mà với môn này, bởi lẽ nhiều em không nắm được cách học phù hợp nên chán nản và kết quả không cao. Vì vậy, ôn tập và làm bài thế nào cho hiệu qủa nhất tôi xin chia sẻ vài kinh nghiệm nhỏ:
     Khi ôn tập: Sơ đồ hóa kiến thức của từng bài, từng chương là việc đầu tiên cần làm, để nắm được trọng tâm cũng như nắm đủ nội dung của từng bài, để tránh nhầm lẫn kiến thức và tình trạng học trước quên sau. Sau đó, tìm hiểu mối liên hệ về kiến thức của các bài đó và ghi nhớ một cách có hiệu quả nhất. Để ghi nhớ hiệu quả nên vừa học vừa ghi ra nháp theo dạng sơ đồ hoá, sau đó tự tái hiện kiến thức vừa ôn tập bằng cách gấp tài liệu lại và tự trình bày lại kiến thức xem phần nào còn thiếu.
    Cần bám sát sách giáo khoa và kiến thức trong vở đã được học (lưu ý phần giảm tải không cần học), để nắm được các kiến thức cơ bản của chương trình tránh tình trạng ôn lan man, ôn không đúng trọng tâm. Đối với học sinh ôn cho thi tuyển sinh CĐ, ĐH nên tham khảo ý kiến của giáo viên bộ môn khi chọn tài liệu để ôn tập.
Việc trao đổi thường xuyên với giáo viên bộ môn, bạn bè, nhóm học tập...là hết sức cần thiết để nắm vững và củng cố kiến thức, kết hợp tự kiểm tra kiến thức của mình bằng một hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và lượng kiến thức tương ứng giữa sách giáo khoa với một số đề thi tốt nghiệp, CĐ - ĐH ở các năm trước là một yếu tố quan trọng để nắm vững và chắc kiến thức.
     Biết tận dụng và khai thác hiệu quả các phương tiện học tập mà Bộ GD & ĐT cho phép sử dụng là atlat.
     Lưu ý khi khai thác Atlát cần:
1. Xác định nội dung yêu cầu trong atlat:
Nắm rõ các mục lục trong atlat, để tìm đúng và nhanh nội dung kiến thức cần tìm hiểu xem ở trang nào trong atlat, tránh tình trạng tốn thời gian trong việc tìm kiếm kiến thức và thậm chí khai thác sai kiến thức cần tìm hiểu so với yêu cầu.
VD: “Sử dụng Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học hãy: Kể tên các ngành của mỗi trung tâm công nghiệp sau: Biên Hoà, Vũng Tàu” ( Đề TN THPT năm 2011 – Câu III – 1 –a)
Với yêu cầu trên dựa vào mục lục thì ta có thể dựa vào atlat ở mục Công nghiệp chung (trang 21 – atlat) hoặc Vùng Đông Nam Bộ (trang 29 – atlat NXB GDVN) để khai thác.
2. Đọc atlat phải theo trình tự khoa học và logic:
Cũng với yêu cầu trên nhưng để nắm rõ các ngành của mỗi trung tâm thì ta cần đọc chú giải (trang 3 – Kí Hiệu Chung) để biết được các kí hiệu ở mỗi trung tâm thể hiện cái gì và rút ra được kiến thức theo yêu cầu.
Trong atlat cũng thể hiện một lượng kiến thức tổng quát khá lớn giúp giảm tải rất nhiều kiến thức trong SGK cần ghi nhớ. Vì vậy, cần nắm được các nội dung kiến thức trong bài học với các mục cụ thể trong atlat để từ đó rút ra được các thông tin cần thiết, đồng thời giúp khai thác mối liên hệ giữa các đối tượng địa lí cần tìm hiểu: Phần kinh tế chung (atlat trang 17- thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế của nước ta, giai đoạn 1990 – 2007). Phần trên tương ứng với mục 1 – Bài 20 “CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ”, trang 82 SGK. nên không cần học thuộc số liệu trong SGK....
Lưu ý: Các kỳ tuyển sinh bao giờ cũng có câu “dựa vào atlat và kiến thức đã học hãy....” nên việc nắm vững phương pháp khai thác atlat là hết sức quan trọng.
3. Atlat thể hiện các dạng biểu đồ:
Các dạng biểu đồ đều được thể hiện trong atlat. Vì vậy, đây là một kênh thông tin không thể thiếu được đối với thí sinh. Bởi lẽ, bài tập kĩ năng vẽ biểu đồ là một câu bắt buộc trong các kỳ tuyển sinh và chiếm 2 điểm, nhưng nhiều thí sinh còn lúng túng với các dạng biểu đồ cần vẽ, thập chí vẽ sai so với yêu cầu. Vì vậy, cần dựa vào các dạng biểu đồ trong atlat so với yêu cầu đề bài để vẽ chính xác.
Lưu ý: Dạng biểu đồ cần vẽ ở câu kĩ năng đề cho sẵn: Dựa vào bảng số liệu, vẽ biểu đồ ( hình tròn, vẽ biểu đồ miền... ) thể hiện.... .
Vẽ Biểu Đồ
Vẽ biểu đồ là bài tập bắt buộc của bộ môn địa lí trong các kì thi tuyển sinh. Vì vậy, vẽ sao cho khoa học (chính xác), trực quan (rõ ràng, dễ đọc), thẩm mĩ (đẹp), để đạt điểm tối đa là một yếu tố quan trọng:
Xác định dạng biểu đồ cần vẽ: Biểu đồ địa lí gồm các dạng: biểu đồ tròn, biểu đồ miền, biểu đồ cột, cột đôi, biểu đồ đường, biểu đồ cột và đường kết hợp...vì vậy, để xác định đúng biểu đồ cần vẽ thì cần đọc kĩ đề, sau đó lấy bút gạch dưới chân cụm, từ gợi ý để xác định. Thông thường các cụm từ như: Cơ cấu hoặc nhiều thành phần của một tổng thể thì vẽ biểu đồ tròn ( thời gian từ 1 đến 3 năm ), vẽ biểu đồ miền (thời gian từ 4 năm trở lên). Thể hiện tốc độ phát triển, tăng trưởng thường là biểu đồ cột hoặc đường ( nhiều đối tượng: cà phê, cao su, dừa... thì biểu đồ đường). Khi đề thể hiện hai đối tượng khác nhau :Dân số (triệu người) và sản lượng lúa (triệu tấn), thì thường là biểu đồ kết hợp cột và đường. Nếu đề bài có cụm từ tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng lại có nhiều đối tượng, nhiều năm, cùng một đơn vị thì hãy lấy năm đầu là 100 % rồi xử lý số liệu trước khi vẽ.
Kĩ năng vẽ cơ bản:
- Biểu đồ tròn: Đối tượng Địa lí được thể hiện trên bản đồ được tính bằng %. Khi bảng số liệu cho giá trị tuyệt đối thì phải chuyển sang giá trị tương đối sau đó dùng số liệu đã xử lí để vẽ biểu đồ.
- Nếu biểu đồ yêu cầu vẽ qui mô thì phải tính bán kính hình tròn ( R = ). Hoặc chỉ cần vẽ hình tròn năm sau lớn hơn năm trước.
- Nếu vẽ 2 & 3 hình tròn phải vẽ tâm của các đường tròn nằm trên một đường thẳng theo chiều ngang.
- Khi chia cơ cấu hình tròn thì tia đầu tiên bắt đầu từ tia số 12 theo chiều chuyển động của kim đồng hồ và chia biểu đồ thành 4 phần lớn ( 25%/ phần), mỗi phần lớn lại chia thành 5 phần nhỏ (5%/phần) hoặc dùng thước đo độ (1% = 3.6 o ) để vẽ chính xác.
Chú ý phải ghi tên biểu đồ (bắt đầu bằng chữ: Biểu đồ thể hiện...) và nghi chú giải (nếu trên 2 đối tượng).
- Biểu đồ cột: Gồm hai trục :Trục tung (thể hiện đ/v các đại lượng), Trục hoành thể hiện thời gian. Chiều rộng của các cột bằng nhau. Khi vẽ biểu đồ này cần chú ý khoảng cách giữa các cột phải có tỉ lệ tương ứng với thời gian. Đỉnh cột ghi các chỉ số tương ứng ; Chân cột ghi thời gian. Nếu vẽ các đại lượng khác nhau thì phải có chú giải phân biệt các đại lượng đó và ghi tên biểu đồ.
- Biểu đồ cột và đường kết hợp: Gồm hai trục tung thể hiện hai đại lượng khác nhau: Dân số (triệu người) và sản lượng lúa (triệu tấn), Khi vẽ biểu đồ này trục tung và trục hoành cũng như biểu đồ cột (trục tung: thể hiện đ/v các đại lượng; trục hoành thể hiện thời gian), khi vẽ biểu đồ kết hợp cột và đường cần chú ý để các điểm mốc của các chỉ số tương ứng của biểu đồ đường nằm giữa cột của biểu đồ cột. Chân cột ghi thời gian, cuối biểu đồ là tên biểu đồ và chú giải...
Một số dạng câu kỹ năng địa lý cần ghi nhớ.
- Tính mật độ dân số:
Mật độ dân số (người/km2) = dân số (người) : diện tích (km2 )
Với dạng trên đơn vị cuối cùng cần phải đổi ra là người/km2 thì sẽ đạt được điểm tối đa.
VD: Diện tích của nước ta là 331 212km2, dân số nước ta năm 2009 là 85 780 000 (tổng điều tra dân số 01/4/2009). Tính mật độ dân số nước ta năm 2009?
- Tính năng suất:
Năng suất (tạ/ha) = Sản lượng (tấn) : Diện tích (ha)
Năm 2004, diện tích gieo trồng cà phê (nhân ) nước ta là 496.8 nghìn ha và sản lượng là 836.0 nghìn tấn
- Tính năng suất cà phê của nước ta qua các năm?
Với dạng trên cần đổi sản lượng lúa ra đơn vị cuối cùng là tạ và diện tích là ha, sau đó tính toán ra kết quả.
- Tính sản lượng lúa bình quân đầu người:
Sản lượng lúa bình quân đầu người (kg/người) = Sản lượng lúa (tấn) : Dân số (người)
Gặp trường hợp này cần đổi sản lượng ra đơn là kg, dân số ra đơn vị là người để đạt điểm tối đa của yêu cầu: Tính sản lượng lúa bình quân đầu người năm 2003; biết dân số 80,9 triệu người và sản lượng lúa là 34,6 triệu tấn. ( sản lượng lúa bình quân đầu người năm 2003 là 427,7 kg/người) .
- Tính bình quân đất trên đầu người:
Bình quân đất trên đầu người (m2/người) = Diện tích đất (km2) : Dân số (người)
VD: Diện tích của nước ta là 331 212km2, dân số nước ta năm 2009 là 85, 78 triệu (tổng điều tra dân số 01/4/2009). Tính bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người ở nước ta?
Khi gặp dạng này cần đổi đơn vị diện tích đất (km2) sang m2 (1 km2 = 1 000 000 m2 ); đổi triệu người ra đơn vị là người rồi tính.
- Tính bình quân thu nhập đầu người:
Bình quân thu nhập đầu người (USD/người) = Tổng thu nhập quốc dân (USD) : Dân số (người)
- Tính tốc độ tăng trưởng:
Lấy năm đầu tiên làm 100%, sau đó lấy giá trị các năm sau nhân 100 rồi chia giá trị năm đầu tiên.
- Khi làm bài: Nếu ôn tập kĩ nhưng không có phương pháp làm bài sáng tạo, khoa học chắc chắn sẽ không mang lại hiệu quả cao, nên khi làm bài cần:
Đọc kĩ đề là yếu tố hết sức quan trọng, tránh đọc qua loa dẫn đến nhầm lẫn kiến thức hoặc làm bài không đúng, đủ yêu cầu của nội dung cần trả lời.
Xác định nội dung của đề nằm trong phần nào của trương trình ( địa lí tự nhiên, dân cư hay điạ lí ngành kinh tế ), từ đó vạch ý cho phù hợp với đặc điểm riêng của từng phần.
Câu nào thuộc làm trước, để lấy chắc đểm của câu đó, tránh lãng phí thời gian vào những câu không thuộc hoặc nhớ lan man. Thông thường thì câu dựa vào atlat và câu kĩ năng (vẽ biều đồ) dễ lấy điểm nhất. Vì vây, nên làm các câu đó trước.
Trình bày bài phải khoa học, logic theo từng ý (chia ra ý lớn, ý nhỏ riêng biệt), nhằm tránh chồng chéo, lặp và thiếu ý, đồng thời với chữ nghĩa rõ ràng, đúng chính tả, ngữ pháp hợp lí là yếu tố quan trọng giúp học sinh đạt điểm cao.


Tác giả bài viết: Tô Văn Quy Giáo viên địa lí: Trường THPT Lê Thành Phương – An Mỹ - Tuy An – Phú Yên.

Tổng số điểm của bài viết là: 16 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

TRƯỜNG THPT LÊ THÀNH PHƯƠNG

       Trường THPT Lê Thành Phương được thành lập vào tháng 8 năm 1986 trên cơ sở phân hiệu An Mỹ của trường THPT Trần Phú nhằm đáp ứng cho nhu cầu học tập của con em nhân dân các xã cánh Nam huyện Tuy An bao gồm: An Phú, An Chấn, An Mỹ, An Thọ, An  Hòa, An Hiệp,...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo quý vị, đánh giá chung về môi trường giáo dục của Nhà trường là

Rất tốt

Khá tốt

Bình thường

Không đạt yêu cầu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
dhxdmt
cdcnth